Friday, September 30, 2016

Khi phương Tây ái mộ phương Đông - thơ Lý Bạch trong tâm tư người Âu Mỹ


Tác giả: Đàm Trung Pháp 


Lời Phi Lộ 

Vì một lý do thực tế, những đoạn trích dẫn thơ Lý Bạch trong bài viết này 
sẽ được ghi theo lối phát âm Hán Việt quen thuộc của chúng ta bên cạnh 
các chữ Hán phồn thể, thay vì bằng phương thức “pinyin” (“phanh âm”) 
để ghi âm quan thoại. Đây cũng là một điều lợi, vì lối phát âm Hán Việt 
vốn gần gũi với lối phát âm chữ Hán đời nhà Đường. Để thêm hứng thú 
cho độc giả, xen kẽ vào giữa các bài hoặc đoạn thơ trích dẫn của Lý Bạch 
và phần chuyển sang tiếng Anh là những bài hoặc đoạn chuyển sang tiếng 
Việt của các dịch giả tài ba. (Người Âu-Mỹ thường chỉ đọc thơ Trung 
Quốc qua các bản dịch sang ngôn ngữ của họ). Tác giả xin thâm tạ Giáo 
sư Lê Văn Đặng đã có nhã ý giúp phần ghi chữ Hán vào bài viết này. 

Monday, September 19, 2016

Tĩnh dạ tư

Chữ "sàng tiền" trong bài thơ này không hiểu tại sao nhiều người dịch là đầu giường. Đầu giường chữ Hán là "sàng đầu".(1) Thay "tiền" bằng "đầu" không phạm luật thơ nào cả, nên thiết tưởng nếu Lý Bạch muốn nói "đầu giường trăng sáng soi" thì hẳn ông đã viết "sàng đầu minh nguyệt quang"...
"Sàng tiền" nghĩa là trước giường.(2) Ánh trăng rọi qua cửa thành một vùng trăng trắng trước giường, nhà thơ có lẽ vừa tỉnh dậy, còn mơ màng, nên ngỡ là sương...
Ngỡ thoáng thôi, rồi biết là ánh trăng, rồi ngồi dậy ngẩng đầu nhìn trăng, rồi cúi đầu nhìn vào... lòng mình!


Nguyên văn
Tĩnh dạ tư
Sàng tiền minh nguyệt quang 

Nghi thị địa thượng sương 
Cử đầu vọng minh nguyệt 
Đê đầu tư cố hương.


Dịch nghĩa
Trăn trở trong đêm vắng
Trước giường trăng sáng soi 

Ngỡ sương phủ mặt đất 
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng 
Cúi đầu nhớ quê xưa.


Dịch ra thơ Đường luật
Tương Như:
Đầu giường ánh trăng rọi, 

Ngỡ mặt đất phủ sương. 
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng, 
Cúi đầu nhớ cố hương.


Trần Vấn Lệ:
Tưởng sương trên đất, hóa ra trăng! 

Ngước mắt khôn ngăn giọt lệ thầm 
Cúi mặt, hỡi ơi lòng dạ nát 
Quê nhà biền biệt biết bao năm!


Dịch ra thơ lục bát
Trần Trọng Kim:
Đầu giường chợt thấy bóng trăng, 

Mập mờ trên đất, ngỡ rằng sương sa. 
Ngửng đầu trông vẻ gương nga, 
Cúi đầu luống những nhớ nhà băn khoăn.


Thu Tứ:
Bản 1:
Trước giường bàng bạc màu trăng, 

Mơ màng lại ngỡ sương giăng la đà. 
Ngửng đầu: trăng sáng trời xa, 
Cúi đầu, chạnh nhớ cảnh nhà, quê xưa.


Bản 2:
Trước giường bay một vùng trăng, 
Dở mê những tưởng sương giăng giữa nhà! 
Ngửng trông vằng vặc trời xa, 
Cúi nghe niềm nhớ chực òa trong tim...

(Theo: http://chimviet.free.fr)

Đôi nét về nhà thơ Lý Bạch


Lý Bạch 李白 (701-762) tự Thái Bạch 太白, hiệu Thanh Liên cư sĩ 青蓮居士, sinh ở Tứ Xuyên (làng Thanh Liên, huyện Chương Minh, nay là huyện Miện Dương). Quê ông ở Cam Túc (huyện Thiên Thuỷ - tức Lũng Tây ngày xưa). Lý Bạch xuất thân trong một gia đình thương nhân giàu có. Lúc nhỏ học đạo, múa kiếm, học ca múa, lớn lên thích giang hồ ngao du sơn thuỷ, 25 tuổi "chống kiếm viễn du", đến núi Nga My ngắm trăng, ngâm thơ rồi xuôi Trường Giang qua hồ Động Đình, lên Sơn Tây, Sơn Đông cùng năm người bạn lên núi Thái Sơn "ẩm tửu hàm ca" (uống rượu ca hát), người đời gọi là Trúc khê lục dật. Sau đó được người bạn tiến cử với Đường Minh Hoàng, ông về kinh đô Trường An ba năm, nhưng nhà vua chỉ dùng ông như một "văn nhân ngự dụng" nên bất mãn, bỏ đi ngao du sơn thuỷ. 


Đến Lạc Dương, gặp Đỗ Phủ kết làm bạn vong niên (Đỗ Phủ kém Lý Bạch 11 tuổi). Họ cùng Cao Thích vui chơi, thưởng trăng ngắm hoa, săn bắn được nửa năm. Rồi ông lại tiếp tục chia tay Đỗ Phủ viễn du về phương nam. Những năm cuối đời ông ẩn cư ở Lư Sơn. Tương truyền năm 61 tuổi ông đi chơi thuyền trên sông Thái Thạch, tỉnh An Huy, uống say, thấy trăng lung linh đáy nước, nhảy xuống ôm trăng mà chết. Nay còn Tróc nguyệt đài (Đài bắt trăng) ở huyện Đăng Đồ, An Huy, là địa điểm du lịch nổi tiếng. Người đời phong danh hiệu cho ông là Thi tiên, Trích tiên, Tửu trung tiên,...